26. PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER MIỀN ĐỒNG NAMBỘ, TỪ CHÍNH SÁCH ĐẾN THỰC TIỄN

Thứ sáu - 03/05/2019 07:05
ĐĐ. Châu Hoài Thái
- *. Ths., Ủy viên Hội đồng Trị sự, Phó ban Ban Thông tin – Truyền thông GHPGVN, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Việt Nam.
26. PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER MIỀN ĐỒNG NAMBỘ, TỪ CHÍNH SÁCH ĐẾN THỰC TIỄN
409





 
PHT GIÁO NAM TÔNG VÀ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER MIỀN ĐỒNG NAMB, TỪ CHÍNH CH ĐẾN THỰC TIỄN

ĐĐ. Châu Hoài Thái*





M TẮT
Phật giáo Nam tông đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ. Tuy nhiên vai trò của Phật giáo Nam tông Khmer tại miền Đông Nam Bộ đang gặp phải những khó khăn, thử thách lớn do hoàn cảnh sống không ngôi chùa của người Khmer tại địa phương. Chính sách tôn giáo dành cho người Khmer chủ yếu tập trung vào khu vực miền Tây Nam Bộ, trong khi đó miền Đông Nam Bộ dường như bị lãng quên với thời gian. Thông qua bài viết này, chúng tôi muốn kêu gọi nhà nước Giáo hội cần quan tâm đến Phật giáo Nam tông Khmer tại miền Đông Nam Bộ, hỗ trợ cho chư Tăng Khmer trong công tác hoằng pháp lợi sanh tại các địa phương như Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai Rịa nhằm đưa đến một sự lãnh đạo bằng chánh niệm a bình bền vững cho cộng đồng Phật tử Khmer.
DẪN NHẬP
Người Khmer Nam Bộ một trong số 54 thành phần tộc người trú trên lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt hai tỉnh Trà Vinh Sóc Tng địa phương đông đồng bào Khmer sinh sống. Đời sống kinh tế của người Khmer chủ yếu lấy nông nghiệp m phương thức mưu sinh, họ cư trú tập trung ở các vùng thôn quê trong các ngôi



*. Ths., y viên Hội đồng Tr sự, P ban Ban Thông tin – Truyền thông GHPGVN, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Việt Nam.
 


làng được gọi sóc (Srok). Phật giáo Nam tông hay còn gọi Phật giáo Nguyên Thủy tôn giáo chính của đồng bào Khmer. Đời sống tinh thần luôn gắn liền với ngôi chùa, trong đó vai trò dẫn dắt đồng bào Phật tử sống an vui, đẹp đo tốt đời thuộc về trách nhiệm lớn lao của chư Tăng. Đ xây dựng cuộc sống bình yên cho người Khmer Nam Bộ, nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến chính sách tôn giáo vấn đề văn hóa tộc người. Đây một vấn đề hết sức “nhạy cảm” cho công cuộc đoàn kết dân tộc hiện nay.
  1. CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO VÀ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
Hiện tại nhà nước ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa giáo dục cho người đồng o. Tuy nhiên tính đc thù của c loại hình chính ch này thường dành chung cho người đồng bàoViệt Nam, ch không dành riêng cho người Khmer. Vì vậy, sẽ những chính ch chưa được sâu sát, thích ứng với hoàn cảnh n hóa, kinh tế hội của người Khmer Nam B. Trong phm vi thống kê ca đy đca nhóm nghiên cứu chúng tôi cho thấy, khoảng 26 chính sách liên quan đến đồng bào Khmer thể đúc kết lại thành ba nhóm chính ch lớn:
    • Chính sách nông nghiệp đối với đồng bào Khmer
    • Chính ch đối với n bộ người Khmer
    • Chính sách đối với tôn giáo của người Khmer chủ yếu dành Phật giáo Nam tông hay Phật giáo Nguyên Thủy.
Trước hết, chúng tôi muốn nói đến chính sách tôn giáo. Đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào Khmer Nam Bộ luôn gắn liền với tôn giáo. Sinh hoạt n a c loại hình diễn xướng dân gian thường diễn ra tại các ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Đối với người Khmer, ngôi chùa vừa trung m n hóa, vừa trường học của các thế hệ thanh niên. Chính vậy, chính sách tôn giáo, dân tộc, chính ch n a hay go dục phn lớn phải gắn liền với hoạt động của một ngôi chùa. Đ chính sách thể phát huy tốt hiệu quả, đòi hỏi người hoạch định chính sách phải hiểu được vai trò của chư Tăng đối với đời sống tinh thần vật chất của người Khmer. Hiểu được vấn đề này nên các quan quảntại các địa phương nơi đông đồng bào Khmer sinh sống thường áp dụng song hành hai loại hình chính sách dành cho lĩnh vực tôn giáo
 


văn hóa. Đánh giá chung của chúng tôi hiện nay chính sách tôn giáo văn hóa dành cho đồng bào Khmer đạt được những thành tựu tương đối tốt nhưng chính ch hỗ trợ c chùa Khmer xây dựng hỏa táng theo phong tục của đồng bào Khmer sau khi quan nhà nước rút ra những bài học kinh nghiệm, đã những thay đổi lớn để phù hợp với nhn thức tôn go của người Khmer.
Chính sách bảo tồn phát huy di sản văn hóa của đồng bào Khmer hiện đang đạt được những điểm đáng tự hào. Đến nay đã hai loại hình văn hóa nghệ thuật Khmer Nam Bộ được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia Chầm Riêng Chầm Pay lễ hội Cúng trăng Ok Om Bok. Đặc biệt địa bàn tỉnh Trà Vinh nơi tập trung nhiều nhất c ngôi chùa Khmer Nam Bộ, hiện 144 ngôi chùa với 33 ngôi được nhà nước công nhận danh hiệu di kiến trúcnghệ thuật cấp quốc gia. Điều đáng tự hào này sẽ còn được tiếp tục phát huy cao hơn nữa nếu không gặp phải vấn đề khó khăn về kinh phí bảo tồn các ngôi tự viện cổ kính này. Vn đề khi một di tích được công nhận danh hiệu cấp quốc gia bị xuống cấp địa phương cần trùng tu hay sửa chữa, thì trung ương sẽ cấp kinh phí. Số tiền trùng tu cũng thể kêu gọi sự hỗ trợ từ cộng đồng người Khmer nhưng các quant trung ương lại quảnvề mặt chuyên môn nguồn kinh phí nhà nước. Địa phương lại phải chờ giải quyết đúng thủ tục của quan quản lý di sản ở trung ương. Nhà chùa dù quy tụ đủ kinh phí cũng không thể tự trùng tu được. Thời gian để chư Tăng đồng bào Khmer chờ chính sách trùng tu quá dài, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của người Phật tử Khmer. Nguồn kinh phí từ trung ương rót xuống quá chậm, cụ thể như chùa Kompong (chùa Ông Mẹt) tại thành phố Trà Vinh phải bị xuống cấp nghiêm trọng trong quá trình chờ trùng tu. Trong khi đó sVăn hóa – Du lịch Thể thao tỉnh Trà Vinh đã làm dự án xin kinh phí trùng tu cho ngôi chùa này hơn 05 năm vẫn chưa được cấp.
Các chính sách tôn giáo của nhà nước dành cho người Khmer Nam Bộ như hỗ trợ việc xây dựng các trường trung cấp Bali tại các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, xây dựng các chương trình dịch kinh tạng Bali – Khmer đào tạo Tăng sinh tại Học viện Phật giáo Nam tông Khmer ờ thành phố Cần Thơ. Với sự hỗ trợ của nhà nước, Phật giáo Nam tông Khmer đã những bước phát triển đáng kể trong
 


công tác hoằng pháp làm lợi sanh cho đồng bào Phật tử, giúp ích rất nhiều cho chính ch tôn go của nhà nước. Số lượng Tăng sinh đạt trình độ Phật học thế học tốt nghiệp đại học ngày càng Tăng thêm đã trở về phục vụ chúng sanh tại các ngôi tự viện Khmer nằm rải rác khắp vùng miền Tây Nam Bộ. Tuy nhiên công tác tôn giáo hoằng pháp của Phật giáo Nam tông Khmer tại khu vực miền Đông Nam Bộ đang gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng. Đồng bào Khmer đang sinh sống tại các tỉnh Tây Ninh Bình Phước từ lâu không ngôi chùa hiện diện trong sóc (làng) của họ hoặc nhiều chùa chiền của người Khmer đã bị phá hủy trong chiến tranh. Ngày nay việc xây dựng lại c ngôi chùa đây đang gặp phải những thách thức lớn. Cuộc sống của cộng đồng người Khmer tại địa phương từ lâu đã xa rời ngôi chùa nên họ không xem đi chùa một nét văn hóa đc trưng của người Khmer na. Trong khi đó cuộc sng khó khăn chất chồng, quanh năm suốt tháng họ chỉ biết gắnvới công việc làm thuê, làm rẫy. Nguồn thu nhập ít ỏi từ hoạt đông kinh tế nương rẫy miền Đông Nam Bộ khiến cho người Khmer hoàn toàn không đủ khả năng đóng góp tài chính để xây dựng một ngôi chùa như các cộng đồng người Khmer ở miền Tây Nam Bộ. Kinh phí xây chùa Khmer ở miền Đông Nam Bộ thường phụ thuộc vào một vài nguồn tài trợ của các nhà hảo tâm, chư Tăng buộc phải áp dụng phương thức xây dựng tiền đến đâu xây đến đấy, dẫn đến nhiều chùa Khmer đã được khởi công xây dựng từ hơn năm năm trước nhưng đến nay vẫn chưa thể hoàn thành. Tại địa phương các chùa Khmer như ở thị Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, người Việt cộng đồng sức mạnh kinh tế. Tuy nhiên, người Việt lại theo Phật giáo Bắc tông thường đóng góp hay cúng dường cho c ngôi chùa Việt tại c địa phương, họ hiếm khi quan tâm đến chùa Khmer những nét khác biệt về n a tộc người.
Các vị đang tu hành tại các ngôi chùa Khmer ở miền Đông Nam Bộ phải nổ lực gấp nhiều lần so với chư Tăngmiền Tây. Nguyên nhân chính người Khmer ở địa phương không quen đi chùa lễ Phật, họ mất hẳn truyền thống gửi thanh thiếu niên tu học tại c chùa trước khi bước o đời. Đ người đến chùa lễ Phật thanh thiếu niên đến chùa làm sư, một vài vị cả phải đi vận động con trong sóc, cụ thể khảo sát của chúng tôi cho thấy tại chùa
 


Sirivansa thuộc phường Tân Xuân, thị Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, trụ trì Danh Dara phải đi vận động bào con Khmer cho con trai đến chùa tu học. Mọi chi phí, ăn ở, sinh hoạt đi học tại c ngôi trường ở địa phương, Danh Dara phải trang trải. Thế nhưng không phải mọi gia đình người Khmer ở địa phương đều chấp nhận cho con trai của họ đến chùa.
H quả của việc này hoàn toàn liên quan đến chính sách tôn giáo của nhà nước của Phật giáo Nam tông Khmer tại địa bàn miền Đông Nam Bộ. C thể như hơn 40 năm qua cộng đồng người Khmer sinh sống tại thị Đồng Xoài, nhất tại ngãSóc Miên mất hẳn hình ảnh ngôi chùa những nhà áo vàng đã làm cho đời sống tinh thần của họ thiên về những loại hình tín ngưỡng ma thuật. Khi Phật giáo Nam tông Khmer mất vai tròđây chính ngun nhân cho c loại “đo mới xâm nhp o cộng đồng người Khmer ở địa phương, đồng thời nó cũng chính mảnh mất màu mỡ cho các “thầy cúng, thầy bùa thầy ngải hoạt động. H nắm lấy vai trò thần quyền trong các sóc, dọa dân chúng không được đi chùa, kng được thờ Pht. Trong một bui viếng tm chùa Sirivansa, nhóm c giả chúng tôi đã chứng kiến một phụ n Khmer đã mang một pho tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến trả cho chùa. Lý do chị đưa ra với trụ trì “dân trong sóc ai cũng nói đây tượng Me Sóc” không thờ được trong nhà nên phải mang đến trả cho chùa. Hành động này cho thấy người phụ nữ Khmer này hoàn toàn không biết được đặc điểm của tượng Phật Thích Ca như thế nào. Chắc chắn rằng gia đình chị từ lâu không còn tập tục thờ Phật nữa, hoặc thể họ đang bị khống chế bởi những thầy cúng trong sóc. Những kẻ này đã dọa để m áp lực buộc gia đình chị phải trả lại tượng Phật cho chùanhà giải thích như thế này chị vẫn khăng khăng bảo rằng tượng Me Sóc không thờ được. Theo cách hiểu của chúng tôi Me Sóc người đứng đầu một ngôi ng của người Khmer, n a của người Khmer theo chế độ mẫu hệ nên thể ngày xưa các sóc do một người phụ nữ phụ trách, bởi vì chữa Me nghĩa là m, sóc là làng. Trong tín ngưỡng của người Khmer chỉ trường hợp thờ Neakta chứ không thờ Me Sóc. Người công với ng cũng được dân chúng thờ cúng trong vai trò của một Neakta như trường hợp miếu Neakta trong chùa Samrong Ek ở thành phố Trà Vinh thờ người công với cộng đồng.
 


Theo quan điểm của chúng tôi, chính ch tôn go tộc người đối với đồng bào Khmer hiện nay quan trọng nhất cần tập trung vào cộng đồng người Khmer ở miền Đông Nam Bộ, nơi người Khmer mới chỉ bắt đầu làm quen lại với Phật giáo Nam tông. C Tăng từ chùa Candaranseythành phố H C Minh được cử về coi sóc các ngôi chùađây đang gặp nhiều vấn đề khó khăn về điều kiện vật chất, tinh thần không được sự hỗ trợ tuyệt đối từ cộng đồng Khmer địa phương. Tại một số nơi nhà đang gặp phải sự chống đối ngấm ngầm của các thầy cúng các loại hình đạo mới. Chúng tôi cho rằng các chính sách của nhà nước cần chú ý đến việc hỗ trợ kinh phí xây dựng các ngôi chùa Khmer tại miền Đông Nam Bộ, Giáo hội cũng cần hỗ trợ cho các hoạt động từ thiện hoằng pháp nhằm tạo động lực cho người Khmer ở địa phương quay lại với ngôi chùa. Các vị Khmer tại nơi đây cần nổ lực giúp con gầy dựng lại tập tục thờ Phật trong các gia đình người Khmer. Nếu không chính sách của nhà nước Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chúng tôi cho rằng Phật giáo Nam tông Khmer không thể lấy lại vị thế của mình tại một số địa phươngmiền Đông Nam Bộ.
  1. VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRONG N A KHMER ĐƯƠNG ĐẠI, YẾU TỐ CN THAY ĐỔI KHI XÂY DỰNG CHÍNH CH
Người Khmer Nam Bộ hiện đang kế thừa một kho tàng di sản giá do tổ tiên để lại đó kho tàng âm nhạc, kiến trúc, hội họa rất phong phú, đa dạng trong đó loại hình văn hóa dân phát triển tại các sở của nhà chùa. Đặc biệt, âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ. Các ngôi chùa Khmer Nam Bộ được xem những trung tâm văn hóa thực hiện công tác bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng, trong đó âm nhạc truyền thống Khmer một loại hình di sản quan trọng được chư Tăng quan m đáng kể. Tại những ngôi chùa lớn, người Khmer thường đóng góp kinh phí để mua sắm ít nhất một giàn nhạc N âm thành lập một đội nhạc công chuyên phục vụ âm nhạc cho các lễ hội truyền thống nghi lễ vòng đời. Tuy nhiên, điều kiện kinh tế sự tác động của thị trường âm nhạc đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức âm nhạc của người Khmer đang sinh sống trong các sóchuyện Trà Cú, đồng thời cũng làm biến đổi hình thức biểu diễn ch thưởng thức âm nhc của người Khmer trong giai đon hiện nay.
 


Người Khmer hiện vẫn sử dụng phổ biến giàn nhạc N âm làm nhạc lễ trong các đám tang biểu diễn âm nhạc trong các lễ hội truyền thống như lễ mừng năm mới (Chol Chnam Thmay), lễ cúng trăng (Ok Om Bok), lễ Dâng y (Kathin). Các loại hình kinh tế của người Khmer ở miền quê hiện nay giúp họ ngày càng gia Tăng thu nhập, đồng thời cũng tạo nên nhiều mối quan hệ hội rộng hơn phạm vi phum sóc. Hiện nay, việc tổ chức đám tiệc cùng với âm nhạc đi kèm đang trở thành một trào lưu không thể thiếu trong cuộc sống tinh thần của giới trẻ. Giới trẻ Khmer sở thích mê ca hát nên họ thường tham gia nhiệt tình vào những bữa tiệc nào tổ chức văn nghệ. Hiện nay, các hoạt động kinh tế của thanh niên Khmer phần nhiều nằm ngoài phạm vi phum sóc, tính chất công việc đã tạo cho họ tâmmạnh dạng khi đứng trước đám đông. Các đám cưới hay đám tiệc cơ hội để người trẻ chứng minh kh năng ca hát của mình, chính vậy nếu một người Khmer biết ca hát hoc giọng hát hay, họ sẽ luôn được bạncổ bước lên sân khấu trong các bữa tiệc hay liên hoan. Đám cưới hay các loại hình đám tiệc khác luôn đông người tham gia, điều này cũng làm Tăng thêm yếu tố khích lệ để những “cây văn nghệ trong sóc” trổ tài ca hát của mình với giàn nhạc sống. Việc tham gia thưởng thức âm nhạc của người Khmer đang ngày càng biến đổi theo chiều hướng chuyên nghiệp hơn. Loại hình hát karaoke phổ biến trước đây, nay không còn được ưa chuộng nữa. Những gia đình không điều kiện kinh tế mới t chức hát karaoke trong tiệc cưới, do phn nhiều người dân quan niệm karaoke loại hình âm nhc đã lỗi thời. Ngày nay, loại hình nhạc sống đóng vai trò quyết định trong các bữa tiệc của người Khmer, bất cứ tiệc tùng nếu gia chủ điều kiện kinh tế tốt thì sẽ thuê giàn nhạc sống về hát cho vui cửa vui nhà.
Ngày nay, nhc sống không những phổ biến trong đám cưới mà còn xuất hiện trong nhiều loại hình đám tiệc khác. S đam mê ca hát của người Khmer đã m cho loại hình nhc sống trở thành một trào lưu văn nghệ thịnh trị nhất hiện nay trong các vùng cư trú của Khmer. Việc tổ chức ca hát không còn giới hạn trong các bữa tiệc vui của gia đình mà đã được mở rộng o tận những ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Vào những dịp diễn ra lễ hội truyền thống như L mừng năm mới (Chol Chnam Thmay), lễ hội Sel Dolta, lễ cúng trăng (Ok Om Bok) lễ Dâng Y (Kathin) tại một số ngôi chùa Khmer trong huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, chư Tăng tổ chức
 


luôn cho dân sóc vui chơi bằng cả hai loại hình âm nhạc, nhạc N âm nhạc sống. Việc tổ chức nhạc sống trong chùa để dân sóc ca hát trong các dịp lễ hội bắt đầu diễn ra trong khoảng thời gian cách đây 10 năm. Do chư Tăng thấy người Khmer ngày càng đam mê ca hát một số người Khmer óc kinh doanh đã đầugiàn nhạc cho thuê. H bèn đưa thêm loại tân nhạc vào nhà chùa nhắm đáp ứng nguyện vọng ca hát của dân sóc trong những ngày lễ hội. Với quan niệm thực tiễn lễ hội phải vui, ng vui thì ng thành công, do đó khi nhà chùa đứng ra tổ chức lễ hội, chư Tăng luôn phải chú ý đến thị hiếu n nghệ của người dân. Nếu thấy loại hình nghệ thuật nào dân sóc yêu thích thì chư Tăng phải đưa ngay vào, tân hay cổ không quan trọng, miễn m sao loại hình nghệ thuật đó được đánh giá là lành mạnh. Đặc bit tại chùa Long trường và chùa Ba Trạch Long Hiệp, huyện Trà Cú phong trào văn nghệ quần chúng phát triển mnh, nhc sống không những được biểu diễn trong c lễ hội truyền thống còn xuất hiện trong lễ Dâng bông (y), đám phước. Thấy người dân yêu thích ca hát, chư Tăng bèn mời cả hai giàn nhạc tân cổ đến biểu diễn tại chùa cùng một lúc. Khuôn viên nhà chùa được phân thành hai khu vực biểu diễn, khu n nhc đặt giàn nhạc sống, còn khu cổ nhạc trang bị giàn nhạc N âm. Người Khmer đến viếng chùa thể tham gia ca hát với nhạc sống hay ngồi nghe biểu diễn nhạc N âm, ai thích loại hình nghệ thuật nào thì sang khu dành riêng cho loại đó tham gia. Tuy nhiên, tân nhc bao giờ cũng chiếm ưu thế về s lượng người tham dự tham gia ca hát so với cổ nhạc, đặc điểm của các bài hát mang phong cách tân thời, vui tươi, tình tứ, lại bài mang giai điệu giật gân, người biểu diễn vừa hát vừa nhảy múa m saykhách giả. Nhn định này cho thấy dòng tân nhạc của người Khmer ràng chiếm ưu thế mạnh hơn cổ nhạc. Nếu không tổ chức một giàn nhạc sống trong chùa vào các dịp lễ hội thì dân sóc cũng đòi tham gia hát tân nhạc bằng giàn N âm. Trên thực tế nếu phải hát cổ nhạc, dân sóc cũng không biết phải hát bài . Vì hàng ngày họ xem chương trình ca nhạc trên TV hay nghe từ radio cũng đều loại hình tân nhạc. Chính lý do này, một số chùa buột phải chuẩn bị giàn nhạc sống cho các dịp lễ hội cổ truyền của người Khmer. Khi tiếp xúc với Phật tử, chư Tăng Khmer luôn nhận biết được nhu cầu âm nhạc của họ, các cũng nhận ra rằng cổ nhạc hay tân nhạc đều cái hay riêng, loại hình nào giúp cho dân sóc được vui chơi giải trí lành
 


mạnh thì nhà chùa sẽ luôn tạo điều kiện. Tuy giàn nhạc sống hiện đại nhưng n a Khmer vẫn được thể hiện qua ngôn ng hát, c bài hát đều bằng tiếng Khmer chủ yếu lấy từ đoàn nghệ Ánh Bình Minh của tỉnh Trà Vinh rồi phổ biến vào các sóc. Tuy nhiên hiện nay nhc xuất xứ từ Campuchia thường nhiều hơn nhc ng c tại Việt Nam. Một số bản nhạc bị ngành văn hóa cấm, nếu ai lên hát thì nhc công nhc phải dừng.
Với trào lưu phát triển về âm nhạc hiện nay, cần chính sách đầu tư của nhà nước về lĩnh vực văn hóa đương đại như đầu tư, hỗ trợ cho sáng tác âm nhạc của người Khmer Nam Bộ. T chức c cuộc thi ng c ca khúc dành cho những người Khmer say âm nhạc. Các chính sách về văn hóa của nhà nước dành cho đồng bào Khmer hiện nay chỉ tập trung vào mảng bảo tồn di sản văn hóa truyền thống. Muốn phát triển tốt đời sống văn hóa của người Khmer, nâng cao giá trị nhn thức của họ quê hương, đất nước xây dựng chính sách hỗ trợ về văn hóa đương đại, nhất loại hình âm nhạc hiện nay đang được người Khmer ưa thích nhưng không nhiều bài hát phù hợp với lứa tuổi thanh niên.
KẾT LUN
Phật giáo Nam tông đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ. Tuy nhiên vai trò của Phật giáo tại miền Đông Nam Bộ đang gặp phải những khó khăn, thử thách lớn do hoàn cảnh sống không ngôi chùa của người Khmer tại địa phương. Chính sách tôn giáo dành cho người Khmer chủ yếu tập trung vào khu vực miền Tây Nam Bộ, trong khi đó miền Đông Nam Bộ dường như bị lãng quên với thời gian. Thông qua bài viết này, chúng tôi muốn kêu gọi nhà nước Giáo hội cần quan tâm đến Phật giáo Nam tông Khmer tại miền Đông Nam Bộ, hỗ trợ cho chư Tăng Khmer trong công c hong pháp lợi sanh tại c địa phương như Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai Rịa.
Tại các vùng cư trú của người Khmer ở miền Tây Nam Bộ, chính sách văn hóa tôn giáo luôn sự phối hợp nhịp nhàn với nhau. Tuy nhiên cũng những vấn đề không hợp lý như chủ trương mỗi đều xây dựng một nhà văn hóa nhưng hoạt động không được hiệu quả người Khmer thói quen gắn bó cuộc sống với nhà chùa. H sinh hoạt văn hóa tại các chùa chứ không vào khác nhà
 


văn hóa. Do đó cần Tăng cường hoạt động văn hóa tại các nhà văn hóa , nhất tìm kiếm những loại hình nghệ thuật, biểu diễn n a dân gian phù hợp với lứa tuổi thiếu niên thanh niên.
Hiện tại Phong trào xây dựng đời sống n a đã đang đi sâu o ý thức hành động mỗi người dân Khmer tại địa phương. Cần thực hiện Chương trình Bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa phi vật thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa của Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch một cách cụ thể hơn trong phạm vi sở như đầu trang thiết bị, xây dựng hoàn thiện c đội nghệ nhân dân gian như Kê, Rô Băm các đội văn nghệ trong các sóc.
M rộng thêm các cuộc thi mang tính chất phong trào văn nghệ quần chúng Tăng cường giá trị của các giải thưởng âm nhạc, xây dựng thêm các chương trình sáng tác ca khúc mới bằng tiếng Khmer. Chính sách văn hóa cần hỗ trợ thêm nhiều cuộc thi về âm nhạc, trao giải thưởng xứng đáng cho các ca khúc đạt giải, khuyến khích người Khmer tham gia ng tạo trong hoạt động biểu diễn tại các sở. Xây dựng các chương trình riêng phát sóng trên truyền hình với dành cho đồng bào Khmer như tôn giáo, văn hóa, giáo dục c chương trình khuyến nông nhm xây dựng đời sống vật chất tinh thn của người Khmer ngày một phát triển hơn.




 

***

 



Tài liệu tham khảo
Ban dân tộc tỉnh Trà Vinh (2016), Báo cáo kết quả thực hiện các chương trình, chính sách, d án đầutrong vùng đồng o dân tộc giai đoạn 2005- 2015 trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.
Đinh Văn Liên (1991), “Đặc điểm môi sinh dân số ở vùng người Khmer đồng bng sông Cửu Long, trong Vn đề n tc ở đng bằng sông Cửu Long, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.75-107.
Lê Anh Vũ (2016), “Hành trình mưu sinh trên đất khách: sinh kế bản sắc đăng trong Đời sống hội Việt Nam đương đại (tập 2), Những người thiểu số ở đô thị: lực chọn, trở thành, khác biệt, NXB. Tri thức.
Lê Hương (1969), Người Việt gốc Miên, Thanh niên, Sài Gòn. Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Thanh niên, Sài Gòn.
Malleret L. (1959), Khảo cổ học Đồng bằng sông Cửu Long tập I (L Archéologie du delta de Mekong, Volume I), Bản dịch của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Hà Nội năm 1960.
Malleret L. (1959), Khảo cổ học Đồng bằng sông Cửu Long, tập II: Văn hóa vật chấtÓc Eo (L Archéologie du delta de Mekong, volu- me II: La civilization matérielle d Óc Eo), Bản dịch của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Hà Nội năm 1970.
Malleret L. (1962), Khảo cổ học Đồng bằng sông Cửu Long, tập II: Văn hóa vật chấtÓc Eo (L Archéologie du delta de Mekong, vo- lume III: La culture d Óc Eo), Bản dịch của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Hà Nội năm 1970.
N Thị Phương Lan (2014), T lúa sang tôm: hành vi giảm thiểu rủi ro khai thác vốn hội của nông dân vùng ĐBCL, NXB. Đại học Quốc gia TP. HCM.
Ngọc Anh (2002), Các hình thức th cúng của bộ lạc, Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
Nguyễn Khắc Cảnh (2000), S hình thành cộng đồng người Khmer Nam Bvùng ĐBSCL, trong Văn hóa Nam Btrong không gian xã hội Đông Nam Á, NXB. Đại học Quốc gia TP. HCM, tr. 217-229.



Nguyễn Xuân Diệu (2000), “Góp phần tìm hiểu về mối quan hệ sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người Kinh KhmerHoa Sóc Trăng trong tiến trình phát trin, Tp san hội tho KHLS hình thành và phát triển tnh Sóc Trăng trước năm 1975, tr. 143-147.
Phạm Huỳnh Phương, Hoàng Cầm (2013). Mt số khuynh hướng thuyết nghiên cứu văn hóa và các hướng tiếp cận nghiên cứu văn hóa Việt Nam, (đề tài cấp bộ), Viện nghiên cứu văn hóa.
Phan Thị Yến Tuyết (2010), Tâm thức ứng xvới nước của người Khmer qua lễ hi Ok Angbok – tiếp cn sinh thái văn hóa, Tờ tin khoa học Đại học Trà Vinh số 07, tháng 02 năm 2010.
Phan Thị Yến Tuyết (2012), Tâm thức ứng xvới bin của người Khmer Nam Bộ qua lễ hội Phước Biển (Chroi Rumchek)tiếp cn sinh thái văn hóa, tp chí Khoa hc xã hi, vin phát trin bền vững vùng Nam Bộ, tháng 04 năm 2012.
Phan Th Yến Tuyết (2014), Đời sống hội kinh tế văn hóa của ngư dânvàcưdânvùng biển Nam Bộ, NXB Đại học Quốc gia TP. HCM.
Thành Phần (2006), “Biến đổi kinh tế - hội của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng, trong Đồng bng sông Cửu Long: Thực trạng giải pháp để trở thành vùng trọng điểm phát triển kinh tế giai đoạn 2006 – 2010, NXB Đại học Quốc gia TP. HCM, tr. 320 – 331.
Thanh Phong (2013), “Khởi Sắc Ngọc Biên, http://www.tra- vinh.gov.vn/wps/portal/tracu/!ut/p/c0/04 (truy cập ngày 20/01/2017).
Trần Dũng, Đặng Tn Đức (2012), “Tín ngỡng lễ hội dân gian tộc người Khmer tỉnh Trà Vinh (phần IV), trong Diện mạo văn hóa tín ngưỡng lễ hội dân gian tỉnh T Vinh, NXB. Văn hóa thông tin.
UBND huyện Trà Cú (2011), Đề án phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh bền vững huyện trà cú, tỉnh T Vinh giai đoạn 2011-2015 định hướng đến m 2020
Viện văn hóa (1993), Văn hóa người KhmerĐồng bằng sông Cửu Long. - NXB. Văn hóa Dân tộc.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây